Giấc Mơ Việt Nam
Nhà b́nh luận nổi tiếng của
chương tŕnh News Hour,
Roger Rosenblatt, tóm lượt
về nguồn gốc nước Mỹ: “Quốc
gia được thành lập từ những
giấc mơ, và cũng qua đó, đă
hun đúc nên giấc mơ của cả
một quốc gia”. Vâng đúng thế.
Ngoài trừ số nhỏ người bản
xứ, đất nước Hoa Kỳ được xây
dựng nên do bàn tay và khối
óc của những kẻ bên ngoài.
Họ đến đây từ trăm ngă đường
khác nhau và hàng trăm vùng
đất khác nhau.
Cậu bé có tên Mỹ là Irving
Berlin sinh tại Nga vào năm
1888. Cậu theo cha mẹ đến
định cư tại New York khi mới
vừa lên 4 tuổi. Khi c̣n rất
nhỏ, cậu Irving phải vừa làm
nghề dọn chén bát trong một
nhà hàng và vừa học sáng tác
nhạc, một bộ môn mà cậu say
mê. Sau khi nhạc phẩm đầu
tay được xuất bản vào lúc 13
tuổi, tên tuổi của nhạc sĩ
trẻ tài ba Irving Berlin đă
trở thành đồng nghĩa với nền
âm nhạc Hoa Kỳ thế kỷ 20 qua
những nhạc phẩm vượt thời
gian như God Bless America,
White Christmas, v.v…
Bà Madeleine Albright, cựu
Bộ Trưởng Ngoại Giao và là
người phụ nữ đầu tiên giữ
chức vụ cao cấp nhất trong
chính phủ Hoa Kỳ, vốn là
người Tiệp Khắc. Cha mẹ bà
đă phải vượt qua nhiều biên
giới để trốn tránh chế độ
Cộng Sản khi tiếng xích xe
tăng Liên Xô nghiền nát
đường phố thủ đô Prague vào
năm 1948. Cuối cùng bà cùng
gia đ́nh đă vượt thoát được
và định cư tại Hoa Kỳ khi
Madeleine Albright vừa 11
tuổi. Bà theo học Luật, đỗ
tiến sĩ và cách đây không
lâu, trở thành người phụ nữ
đầu tiên giữ chức Ngoại
Trưởng Hoa Kỳ.
Edward Bannister, họa sĩ nổi
tiếng về phong cảnh của Mỹ
là một người da đen thuộc
vùng West Indian, Phi Châu.
Ông đến định cư tại Mỹ qua
ngă Canada vào năm 1848. Tác
phẩm Under The Oaks của ông
là một trong những thành tựu
nghệ thuật lớn của nền hội
họa Hoa Kỳ thế kỷ 19. Tác
phẩm này đoạt giải nhất
trong cuộc thi đánh dấu 100
năm hội họa tại Philadelphia
Centennial Exposition. Khi
khám phá ra Edward Bannister
là người da đen, ban giám
khảo có ư định thu hồi giải
thưởng. Tuy nhiên, trước sự
đấu tranh của những họa sĩ
đồng nghiệp, nhất là của
những họa sĩ da trắng đă
từng cùng tranh giải với
ông, Ban Giám Khảo đă hủy bỏ
dự tính.
Những người di dân điển h́nh
thuộc nhiều lănh vực, màu da
và chủng tộc khác nhau. Họ
không từng quen biết nhau,
không cùng một thế hệ, không
cùng huyết thống và chẳng
hẹn ḥ đính ước ǵ nhau.
Những người di dân đầu tiên
thường không giàu có, học
hành, trí thức, trái lại
phần đông họ rất nghèo nàn,
ít học, đến đây từ hai bàn
tay trắng. Tuy nhiên, dù từ
đâu đến và trong hoàn cảnh
nào, họ đă cùng góp bàn tay
đưa nước Mỹ từ một vùng đất
hoang vu thuộc địa của Anh
thành một cường quốc tự do,
dân chủ và thịnh vượng nhất
thế giới ngày nay.
Câu chuyện thành công của
nước Mỹ, đúng như Roger
Rosenblatt viết, đă bắt đầu
từ một giấc mơ chung: Giấc
Mơ Người Mỹ hay American
Dream như chúng ta thường
nghe gọi bằng tiếng Anh.
American Dream được định
nghĩa trong tự điển
Wordsmyth như là “một lư
tưởng của người Mỹ, nhờ đó,
con người nhận được sự giàu
có vật chất, b́nh đẳng, tự
do, và các giá trị tương tự
(the American ideal that any
man or woman may obtain
material wealth, equality,
freedom, and the like)”.
American Dream đă giúp nhân
dân Mỹ chiến thắng đạo quân
tinh nhuệ của Anh Hoàng
George III trong cuộc chiến
tranh giành độc lập
(1775-1783), đă giúp nhân
dân Mỹ vượt qua những bất
đồng kinh tế chính trị sâu
sắc trong thời kỳ chiến
tranh nội chiến (1860-1865),
đă giúp đưa nước Mỹ trở nên
quốc gia có lợi nhất sau cả
hai cuộc chiến tranh thế
giới.
American Dream là giấc mơ mà
những người cha sáng lập của
quốc gia Hoa Kỳ từng ôm ấp
và theo đuổi: Tự Do, Dân Chủ
và Cường Thịnh. Tổng Thống
đầu tiên George Washington
đă từng dặn ḍ: “Tôi mong
được thấy Hoa Kỳ măi măi là
đất nước của tự do và công
lư”. Tượng đài kỷ niệm Tổng
Thống George Washington được
kiến trúc dựa theo tinh thần
độc lập, tự chủ và vươn lên
đó.
American Dream là giấc mơ
b́nh đẳng mà Mục Sư Martin
Luther King đă đọc trên thềm
đài kỷ niệm Lincoln ngày 28
tháng 8 năm 1963: “Tôi mơ
một ngày, trên đồi Georgia,
con cháu của những người nô
lệ cũ, và con cháu của những
chủ nô cũ, ngồi lại với
chung một bàn trong t́nh
huynh đệ…Tôi mơ một ngày,
bốn người con của tôi sẽ
được sống trong một đất
nước, nơi đó, chúng sẽ không
bị phán xét do màu da mà
chính bằng tư cách riêng của
chúng”.
American Dream, qua nhiều
thời đại, từ những người
trên chiếc tàu Mayflower cho
đến hôm nay, đă được làm
phong phú thêm để trở thành
một bản sắc văn hóa, một
truyền thống đặc biệt của
quốc gia này.
Trở về với lịch sử Việt Nam,
tổ tiên chúng ta, ông bà
chúng ta đă bao giờ mơ và
theo đuổi Giấc Mơ Việt Nam
chưa?
Trong lúc khó có thể so sánh
giữa 380 năm dựng nước của
Hoa Kỳ thời hiện đại với gần
5 ngàn năm lịch sử Việt Nam,
qua bao nhiêu thăng trầm
thay đổi, chúng ta vẫn vững
tin rằng tổ tiên chúng ta,
không những đă mơ mà c̣n
từng đeo đuổi giấc mơ độc
lập, tự chủ và cường thịnh
như thế từ nhiều ngàn năm
trước.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của những người để lưng
trần, tóc cắt ngắn, đóng khố
che thân, đầu đội mũ lông
chim Hồng, tay ẵm đàn con
Lạc Việt, vượt bao nhiêu núi
rừng ghềnh thác trong cuộc
Nam tiến đầy gian nan nhưng
vô cùng hiển hách, từ vùng
Nam Hoa di dân xuống lưu vực
sông Hồng cách đây 48 thế
kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ
tộc Bách Việt khác đă hoàn
toàn bị tiêu diệt hay đồng
hóa vào những tỉnh, những
huyện như Hồ Nam, Quảng Tây,
Quảng Đông, Vân Nam, Phúc
Kiến của Trung Quốc ngày
nay, gịng giống Lạc Việt
qua bao độ thăng trầm, vẫn
tồn tại và trưởng thành nên
quốc gia Việt Nam độc lập và
tự chủ.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của những người đă tạo nên
nền văn minh Ḥa B́nh. Nơi
đó, ngay từ 20 thế kỷ trước
Công Nguyên, tổ tiên chúng
ta đă biết trồng cây ăn
trái, biết làm đồ gốm, biết
đẽo đá thành những lưỡi cuốc
nhọn, biết đắp đất ngăn bờ
để đưa nước sông vào ruộng.
Từ thuở nhân loại c̣n trong
buổi sơ khai, tổ tiên chúng
ta đă biết xây dựng các cơ
xấu xă hội, lấy thôn làng
làm căn bản, lấy nông nghiệp
làm nền tảng kinh tế, lấy
t́nh nghĩa đồng bào làm sức
mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên
(một mẹ trăm con, chung cùng
bọc trứng) làm nơi nương tựa
tinh thần. Những h́nh ảnh
thân thương quen thuộc của
cây đa, bến nước, sân đ́nh
gắn liền trong tâm thức của
mỗi người Việt Nam, đă bắt
đầu từ thời xa xưa đó.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của những bàn tay khối óc
xây dựng nên nền văn hóa
Đông Sơn, bắt đầu từ hàng
ngàn năm trước, trải dài đến
thời điểm cực thịnh vào thế
kỷ thứ 5 trước Công Nguyên.
Những chiếc trống đồng Đông
Sơn, Ngọc Lữ được chạm trổ
tinh vi đánh dấu một thời
đại vàng son trong tiến
tŕnh phát triển văn minh
nhân loại. Những cổ vật quư
giá đó, không phải chỉ là
những biểu tượng cho văn
minh dân tộc chúng ta mà c̣n
đại diện cho cả nền văn minh
vùng Nam Á đương thời. Chính
tinh thần văn hóa Ḥa B́nh,
Đông Sơn đă hun đúc thành
sức mạnh dân tộc, để các thế
kỷ sau đó, đủ sức đối kháng
với sự xâm lăng thô bạo của
các nguồn văn hóa mang ư đồ
đồng hóa phát xuất từ phương
Bắc.
Thật vậy, mặc dù hơn một
ngàn năm trong bóng đêm nô
lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà
Đường với bao nhiêu cực h́nh
đày đọa, sáng xuống bể t́m
ngọc châu, chiều lên non săn
ngà voi, trầm hương, châu
báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ
được tính độc lập, vẫn giữ
được bản sắc văn hóa Việt
trong sáng và thuần nhất.
Đất nước chúng ta đă hơn một
lần bị mất đi và giành lại
được nhưng chúng ta hănh
diện nói lớn rằng dân tộc
Việt Nam chưa bao giờ bị mất
gốc. Hiếm có trên một đất
nước nào, ở đó, tên của một
con sông, một ngọn núi, một
thôn làng, cũng có thể làm
cho người dân khi nhắc đến
phải rơi nước mắt. Những
Phong Hóa, Nam Quan, Mê
Linh, Bạch Đằng, Vạn Kiếp,
Thiên Trường, Diên Hồng, Chi
Lăng, Lam Sơn, Đống Đa, v.v…
không phải chỉ đơn giản là
những địa danh lịch sử, mà
hơn thế nữa, c̣n là là nơi
giữ ǵn anh linh hùng khí
của dân tộc chúng ta. H́nh
ảnh những chiếc búa, những
chiếc ŕu, những mũi thương,
mũi đao, mũi tên bằng đồng
đào được ở vùng Trung Châu,
Bắc Việt, ở sông Bạch Đằng,
dọc Ải Nam Quan không chỉ là
những cổ vật mà c̣n là chứng
tích của bao nhiêu trận mạc,
bao nhiêu cuộc chiến đấu,
bao nhiêu máu xương và nước
mắt của tổ tiên Lạc Việt đă
đổ xuống trước áp lực của
các triều đại Bắc phương xâm
lấn khác.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của hai người phụ nữ Việt
đất Mê Linh uy danh lừng
lẫy, đă can đảm thắp lên
ngọn lửa tự do cho dân tộc.
Một ngàn năm trăm năm trước
Jeanne d’Arc, người phụ nữ
Pháp lănh đạo cuộc khởi
nghĩa chống ách cai trị của
người Anh, tại vùng Đông Á
đă có hai người phụ nữ Lạc
Việt, Trưng Trắc và Trưng
Nhị phất cờ khởi nghĩa chống
nhà Hán và lập nên một triều
đại huy hoàng. Dù chỉ trị v́
được 3 năm, tinh thần “giặc
đến nhà đàn bà phải đánh”
của hai bà đă trở thành
truyền thống yêu nước tồn
tại đến ngày nay.
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của các bô lăo được vua Trần
Thánh Tông triệu đến điện
Diên Hồng để hỏi ư trước
cuộc xâm lăng của đại quân
Mông Cổ vào tháng Chạp năm
1284. Lần đầu tiên trong
lịch sử, sức mạnh dân tộc
Việt thể hiện không chỉ bằng
ḷng yêu nước nhưng c̣n bằng
tinh thần dân chủ. Chính sức
mạnh tổng hợp vô địch của
ḷng yêu nước và tinh thần
dân chủ đă đẩy lui bao nhiêu
vạn hùng binh Mông Cổ trong
ba cuộc chiến chống quân
Nguyên lừng lẫy. Thượng
Hoàng Trần Thánh Tông đă cảm
khái sau cuộc kháng Nguyên
lần thứ hai:
Xă tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông muôn thưở vững âu
vàng
Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ
của B́nh Định Vương Lê Lợi
sau ba lần tổn thất phải lui
về tử thủ Chí Linh. Quân
kháng chiến đă phải đào củ
chuối, giết ngựa chiến mà
ăn. Suốt mười năm nằm gai
nếm mật đầy hy sinh gian
khổ, khi ḥa khi chiến, lúc
cương lúc nhu, tổ tiên chúng
ta trong thời đại nhà Lê
cuối cùng đă giữ được Giấc
Mơ Việt Nam c̣n sống. Nguyễn
Trăi đă kết luận trong B́nh
Ngô Đại Cáo: “Xă tắc từ đây
vững bền, giang sơn từ đây
đổi mới, càn khôn bĩ rồi lại
thái, nhật nguyệt hối rồi
lại minh, ngàn năm vết nhục
nhă sạch làu, muôn thuở nền
thái b́nh vững chắc, âu cũng
nhờ trời đất tổ tông linh
thiêng đă lặng thầm phù
trợ”. Sử gia Phạm Văn Sơn
trong Đại Việt Sử Kư Toàn
Thư đă nhận xét về Giấc Mơ
Việt Nam: “Và cũng có thể
nói rằng những cuộc hưng
vong thê thảm này đă hun đúc
cho dân tộc chúng ta một
tinh thần tranh đấu bền bỉ,
để tồn tại đến ngày nay,
oanh liệt dưới ṿm trời Đông
Nam Á”.
Một điều hiển nhiên rằng,
nếu tổ tiên chúng ta không
có Giấc Mơ Việt Nam th́ ngày
nay dân tộc Việt Nam đă
không c̣n là dân tộc Việt
Nam nữa, và đất nước Việt
Nam đă không c̣n là đất nước
Việt Nam nữa.
Thế nhưng, các thế hệ con
cháu Hùng Vương, trong cũng
như ngoài nước ngày nay, có
c̣n biết mơ, có c̣n biết
sống với giấc mơ, có c̣n
biết theo đuổi một Giấc Mơ
Việt Nam như bao nhiêu thế
hệ Việt Nam trước chúng ta
đă hằng ôm ấp và theo đuổi
hay không?
Nếu có, xin hăy cùng tôi mơ.
Một ngày, những khách du
lịch nước ngoài sẽ không c̣n
vội vă dừng xe bên những
cánh đồng lúa cằn khô ở
Quảng Nam, Quảng Trị, Hà
Tĩnh, Thái B́nh để chiêm
ngưỡng h́nh ảnh một bác nông
phu, con trâu già với chiếc
cày để lại từ thời Nhâm
Diên, Sĩ Nhiếp.
Xin hăy cùng tôi mơ, một
ngày, trên màn ảnh truyền
h́nh của các chương tŕnh du
lịch sẽ không c̣n chiếu cảnh
những chiếc ghe bầu với
cánh buồm mang hàng trăm mảnh vá, đang bồng bềnh trên vịnh Hạ Long.
Tại sao? Bởi v́, người du
khách thu h́nh bác nông phu
đang cày ruộng, sẽ không bao
giờ ghi được và hiểu được
một điều quan trọng, rằng
phía sau vẻ đẹp thiên nhiên,
bên trong chiếc áo bà ba
đen, chiếc khăn rằn vắt
ngang cổ, chiếc nón lá rách
viền, là một thân thể Việt
Nam đẫm ướt mồ hôi với hàng
trăm vết hằn in sâu trong da
thịt già nua của bác. Cuộc
đời bác nông phu, có thể là
người lính già trở về sau
trận Điện Biên, Hà Nam, Hà
Bắc, giống như bao nhiêu thế
hệ nông dân Việt Nam trước
bác, đă chịu đựng cảnh nghèo
nàn, lao khổ. Họ là thế hệ
đă bị lăng quên và lừa gạt
về những chân trời không bao
giờ có thực.
Tương tự, những khán giả
truyền h́nh xem những chiếc
thuyền buồm, thoạt trông vô
cùng thơ mộng, đang lênh
đênh giữa vịnh Hạ Long, sẽ
không bao giờ biết được
rằng, bên trong chiếc ghe
bầu cũ kỹ kia là một đám dân
chài cùng khổ. Họ là những
con người không biết đến hai
chữ tương lai. Họ không đủ
cơm để ăn, áo để mặc. Họ
được sinh ra ở hầm ghe, ăn
đó, ngủ đó, cưới nhau đó,
sinh con đẻ cái và lớn lên
từ đó. Không thể gọi cảnh
bác nông phu đang cày ruộng,
cảnh những chiếc thuyền buồm
trôi lênh đênh kia là nét
đẹp Việt Nam. Những cảnh đó
không đại diện cho một quê
hương Việt Nam gấm vóc với
gần năm ngàn năm văn hiến.
H́nh ảnh chiếc thuyền buồm,
con trâu, cái cày chỉ nói
lên sự buồn thảm, tuyệt vọng
của một dân tộc không có một
cơ hội để vươn lên. Những
cảnh đó, có thể đẹp và lạ
với người nước ngoài nhưng
đối với những người Việt Nam
tự trọng, là một sỉ nhục.
Những cảnh đó chỉ nói lên sự
lạc hậu của một nền kinh tế
đứng yên tại chỗ từ bao
nhiêu thế kỷ và tố cáo sự
bất lực, thờ ơ, của một nhà
cầm quyền vô trách nhiệm.
Xin hăy cùng tôi mơ, một
ngày, trên đất nước Hùng
Vương, sẽ không c̣n cảnh
hàng trăm em bé Việt Nam đói
khát đang ngồi chờ những
đồng bạc lẻ trên những bậc
tam cấp ở chùa Hương, trong
sân nhà thờ Đức Bà, trong
những quán ăn của người
ngoại quốc, giữa chợ Bến
Thành, ngoài đường phố Sài
G̣n, Hà Nội. Một ngày, người
dân Việt sẽ không c̣n mắt
thấy tai nghe thảm cảnh tuổi
thơ Việt Nam giành giật chém
giết nhau chỉ v́ một chén
cơm thừa, một tô canh cặn.
Những con cháu Hùng Vương
đáng thương kia sẽ có cơ hội
đến trường như bao nhiêu
triệu trẻ thơ khác trên thế
giới. Các em sẽ lớn lên
trong thanh b́nh, tự do, no
ấm. Tâm hồn Việt Nam trong
sáng của các em sẽ không c̣n
bị những chủ thuyết ngoại
lai nhuộm đen, nhuộm đỏ. Hạt
mầm trí thức xanh tươi của
các em sẽ không c̣n bị đầu
độc bằng những liều thuốc
hận thù, rẽ chia, ganh ghét.
Gịng sông chảy róc rách qua
tâm hồn các em không phải là
sông Gianh phân cách hay Bến
Hải chia đôi, mà là gịng
sông huyết thống Lạc Hồng
bắt đầu tận cội nguồn Dương
Tử từ 48 thế kỷ trước đây.
Bài hát các em hát mỗi ngày
không phải bắt đầu bằng
những lời hô hào đấu tranh
giai cấp mà sẽ bắt đầu bằng
ḷng kính nhớ đến ơn đức tổ
tiên, công ơn cha mẹ, t́nh
thương yêu dành cho đồng bào
ruột thịt và kết thúc bằng ư
chí vươn lên sánh ngang vai
cùng thời đại con người đang
không ngừng đổi mới.
Xin hăy cùng tôi mơ, một
ngày, những mục đích đấu
tranh v́ tự do tôn giáo, dân
chủ, nhân quyền, cơm áo mà
dân tộc ta đang theo đuổi
hôm nay sẽ không c̣n cần
thiết, hay ít ra không c̣n
là một ưu tiên tối thượng
nữa.
Một ngày, những khái niệm,
những phạm trù chính trị
cộng sản, quốc gia, cách
mạng, phản cách mạng, thanh
trừng, cải tạo, ly khai,
phản động, một thời vốn là
những ám ảnh nặng nề trong
tư duy, trong cảm xúc của
mỗi người Việt Nam, sẽ không
c̣n là những vấn đề đáng
quan tâm nữa.
Một ngày, các chế độ độc tài
đă thật sự tàn lụi và nền
dân chủ đă mạnh khỏe lớn
lên. Các nhà tù chính trị đă
được san bằng và cũng từ
trên đó, nhiều trường đại
học, viện hàn lâm vừa được
dựng nên. Người dân Việt sẽ
không c̣n nghe nhắc về những
bản án dành cho những người
ly khai chống đối. Nhân dân
Việt Nam sẽ chẳng c̣n ai bận
tâm về chuyện Bắc Nam. Những
con số thống kê sẽ không c̣n
là dụng cụ tuyên truyền mà
là những con số nói lên
thành quả.
Một ngày, nhà thờ, chùa
chiền, thánh thất sẽ thật sự
là nơi rao giảng đức tin và
tinh thần Chân Thiện Mỹ. Các
Thầy, các Cha sẽ là những
người d́u dắt, những chủ
chăn của tín đồ, giảng cho
họ bằng ngôn ngữ của thương
yêu và tương kính.
Một ngày, những vướng mắc
lịch sử, một thời xé nát
trái tim dân Việt, thật sự
đă đi vào lịch sử. Trên đất
nước Hùng Vương của thời đại
mới, trọng tâm của các nhà
lănh đạo một nước Việt Nam
Mới là xây dựng và phát
triển đất nước thành một
cường quốc đa phương được
thế giới kính nhường, một
đất nước Việt Nam có ư thức
cao về dân chủ, độc đáo và
sáng tạo về văn hóa, vững
mạnh về kinh tế, hiện đại về
khoa học kỹ thuật và chan
ḥa t́nh dân tộc.
Việt Nam sau hơn một phần tư
thế kỷ, như nhà văn Dương
Thu Hương đă viết: “trên dải
đất này vẫn chỉ nghe rơ
tiếng vỗ cánh của bầy quạ
đen trên các nghĩa địa nối
dài từ Bắc vào Nam, từ Nam
ra Bắc. Con chim ngậm cành
ô-liu kia c̣n lẩn khuất nơi
chân trời mù sương nào đó.
Trên dải bờ xa xôi. Và chờ
đợi b́nh minh”. Vâng, nếu
chỉ nh́n vào thế hệ Cách
Mạng mùa Thu 1945, thế hệ
Điện Biên 1954, hay thế hệ
gọi là “chống Mỹ cứu nước”
c̣n sống sót hiện nay để
trông chờ một cuộc cách mạng
dân tộc, th́ đó quả là một
thực tế bất hạnh cho đất
nước. Bởi v́ điều đó sẽ
không bao giờ đến.
Những thế hệ 45, thế hệ Điện
Biên dù ở miền Bắc hay miền
Nam đều kiệt sức như nhau.
Họ là những múi chanh đă bị
vắt đến khô cằn, xơ xác. Họ
là những dây cung đă hết độ
đàn hồi. Những chiếc bóng
già nua thu ḿnh trong căn
nhà tập thể với những đồng
tiền hưu cố định, chua xót
nghĩ về hàng triệu anh em
đồng chí đă thật sự làm ma ở
Hà Bắc, Sông Lô, Trường Sơn,
Khe Sanh, An Lộc. Có chăng,
một vài tiếng rên u uất vang
lên đâu đó không đủ mang lại
sinh lực cho một thế hệ đă
kiệt ṃn năng lực. Có chăng,
một vài ngọn đèn le lói được
thắp lên từ những căn pḥng
tập thể, không đủ xua đi
bóng đêm dày đặc mấy mươi
năm đă phủ trùm trên đất
nước.
Nhà thơ Tạ Kư, một nhà thơ
miền Trung thuộc thế hệ 45,
dù may mắn ở lại miền Nam,
cũng chua chát nh́n lại thời
hăng say cách mạng của ông:
Thời gian qua đă ba chục mùa
Xuân
Trai mười tám tóc ngả màu
sương gió
Những đêm đô thành men cay
mắt đỏ
Nh́n trong ly bỗng thấy bóng
ḿnh xưa
Gác trọ buồn thiu nằm khểnh
nghe mưa
Xót thân thế, nhớ từng thằng
bạn học
Ngâm thơ người xưa đau ḿnh
cô độc
Rồi áo cơm thay thế chuyện
giang hồ
Đôi lúc buồn t́nh làm một
bài thơ
Bốn lăm! Bốn lăm!
Những kẻ ra đi, những kẻ
đang nằm
Những kẻ chết, những kẻ c̣n
vất vưởng
Chúng ta làm ǵ?
Thuyền trong cơn gió chướng!
Đúng thế, tâm trạng của nhà
thơ chắc chắn cũng là tâm
trạng của những ai đă một
thời hăng say chiến đấu,
hăng say khăn gói lên đường
tập kết ra miền Bắc, để rồi
sau cuộc chiến trở thành
những kẻ đứng bên lề. Những
kẻ sống sót chắc chắn đă
“sáng mắt sáng ḷng” nhưng
không đủ can đảm để nói lên
sự thật, không đủ can đảm tố
cáo sự lọc lừa phản bội của
giới lănh đạo đảng Cộng Sản
Việt Nam.
Chế Lan Viên, sau mấy mươi
năm làm thơ ca tụng đảng,
cuối cùng đă viết hàng loạt
bài thơ để thú nhận tội đồng
lơa của chính ḿnh, trong đó
có bài “Tôi? Ai?” dưới đây:
Mậu Thân, 2.000 người xuống
đồng bằng
Chỉ một đêm, c̣n sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái
chết 2.000 người đó?
Tôi!
Tôi - người viết những câu
thơ cổ vơ
Ca tụng người không tiếc
mạng ḿnh trong mọi cuộc
xung phong.
Một trong ba mươi người kia
ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi
đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy,
mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi
được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ
giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ
tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm
nay
Giúp người ấy nuôi đàn con
nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn
có thể cười.
Tuy nhiên, dù hoàn cảnh đất
nước c̣n bất hạnh, một điều
rất thật, rằng con chim ngậm
cành ô-liu mà nhà văn Dương
Thu Hương ám chỉ, vẫn chưa
chết.
Dù c̣n lẩn khuất bên kia khu
rừng già hay dưới chân trời
xa, Giấc Mơ Việt Nam vẫn c̣n
sống trong ḷng nhiều triệu
người dân Việt. Trong ḷng
mỗi người Việt Nam vẫn c̣n
đó một giấc mơ về một Việt
Nam Mới dân chủ, nhân bản và
hiện đại.
Cuộc cách mạng nào cũng thế,
đều bắt đầu từ một nhu cầu,
một giấc mơ thời đại, và
được biến thành hiện thực từ
những người cùng ôm ấp một
giấc mơ của thời đại đó.
Việt Nam đang cần, không
phải là những đổi mới nửa
vời, nhưng là một cuộc cách
mạng Dân Tộc, Dân Chủ và
Nhân Bản thật sự, toàn diện
và triệt để.
Và một trong những lực lượng
chủ yếu để biến mơ ước hôm
nay thành băo tố cách mạng
không ai khác hơn là tuổi
trẻ.
Gần sáu chục triệu tuổi trẻ
Việt Nam (65 phần trăm của
dân số Việt Nam trong và
ngoài nước), dù đang ngồi
trong giảng đường đại học xứ
người hay đang chăm lo đèn
sách nơi quê nhà, rồi vẫn
phải vươn vai gánh lấy trách
nhiệm lịch sử để ngậm cành
ô-liu về trên quê hương đầy
bất hạnh của họ.
Quốc gia Do Thái không chỉ
được thành lập từ những
người lính nhảy dù xuống
Palestine vào buổi sáng
tháng 5 năm 1948 nhưng một
phần không nhỏ từ túi tiền
của những nhà tài chánh Mỹ
gốc Do Thái đang làm việc
trên Wall Street ở New York,
từ những khối óc đang ngồi
trong các giảng đường
Harvard, từ sự vận động của
những nghị sĩ, dân biểu, bộ
trưởng gốc Do Thái đang nằm
trong các cấp lănh đạo chính
quyền Mỹ, Anh, Pháp, và từ
những đóng góp máu xương của
hàng triệu người Do Thái lưu
dân khắp thế giới. Tuổi trẻ
Việt Nam cũng thế, những
tinh hoa dân tộc Việt đang
lưu lạc khắp bốn bể năm
châu, chắc chắn một ngày sẽ
cùng với anh em, bè bạn cùng
thế hệ trong nước, bằng tài
năng và bằng khối óc, ra sức
phục hồi sức sống Việt Nam.
Tuổi trẻ Việt Nam, dù sinh
ra ở Hà Nội, Sài G̣n, ở trại
tỵ nạn hay lớn lên ở Paris,
Boston, London, trái tim của
họ vẫn cùng chung một nhịp
đập và ḷng họ đều ôm ấp một
giấc mơ chung: Giấc Mơ Việt
Nam. Đàn nai tơ Việt Nam
đáng yêu kia, dù đi lạc
trong rừng già tăm tối, vẫn
dể dàng nhận ra nhau qua
tiếng hú thân quen, để rồi
từ đó cùng đưa nhau về bên
ḍng suối mát Mẹ Việt Nam.
Tuổi trẻ Việt Nam là thế hệ
của những kẻ biết bay, biết
vượt thoát ra khỏi ao tù
nước đọng của quá khứ. Tuổi
trẻ Việt Nam, khi bước qua
sông, không mang theo trên
lưng chiếc ghe quá khứ nặng
nề như các thế hệ cha anh.
Tâm hồn họ trong sáng như
ước mơ của đời họ. Những ǵ
nên giữ họ sẽ giữ và những
ǵ cần phải xóa bỏ, họ sẽ
không ngần ngại đập đổ đi mà
không hề nuối tiếc, vấn
vương công sức. Hành trang
trên vai của họ là một tương
lai đất nước đầy hy vọng. Họ
sẽ dắt tay nhau đi về phía
chân trời có thực, đó là
b́nh minh cho một đất nước
Việt Nam Mới.
Dân tộc Việt Nam, sau bao
nhiêu chịu đựng, xứng đáng
để có và chắc chắn sẽ có một
cơ hội tốt đẹp hơn cho các
thế hệ mai sau. Giọt nước
mắt vui mừng cuối cùng sẽ
nhỏ xuống để làm tràn Giấc
Mơ Việt Nam. Đêm liên hoan
của lịch sử dân tộc sẽ không
c̣n xa xôi nữa.
Xin hăy cùng tôi mơ.
Trần Trung Đạo