Không Tôn Trọng Nhân Quyền Sẽ Mất Luôn Chủ Quyền Quốc Gia
LƯ ĐẠI NGUYÊN
Một chế độ độc đảng, độc tài,
độc ác toàn trị cộng sản mà phải
tŕnh diện trước diễn đàn quốc
tế để biện giải về những thành
tích “tôn trọng nhân quyền”
của ḿnh th́ đúng là “bắt
khỉ diễn tṛ” cho thiên hạ
diễu chơi. Việt nam hiện nay
đang sống dưới chế độ độc đảng
toàn trị, cả lập pháp, hành pháp,
tư pháp, tôn giáo, truyền thông
và các đoàn thể xă hội đều bị
đặt dưới sự lănh đạo độc đoán và
chế độ “xin cho” của
một đảng Cộng sản độc quyền tài
phán. Toàn dân bị kiểm soát
nghiêm ngặt bằng biện pháp
“hộ khẩu” và hệ thống
“công an trị” do đảng điều
khiển khít khao. Mọi quyết sách
nội trị, ngoại giao của nhà nước
đều do 15 ủy viên Bộ Chính Trị
đơn phương định đoạt. Mà chính
họ lại không được dân lựa chọn
bầu lên. Kể cả cái Điều 4 của
bản Hiến Pháp 1992 dành cho cộng
đảng toàn quyền lănh đạo quốc
gia, th́ công dân cũng không
được có ư kiến. Ngay việc bầu
người đại diện của ḿnh vào Quốc
Hội cũng phải do đảng tuyển lựa
trước mới để cho dân bầu sau.
Như vậy ở Việt nam không có Dân
Quyền.
Một chế độ được thành lập mà
Quyền Lực Quốc Gia không dựa
trên Ư Chí của Toàn Dân th́ đó
chỉ là chế độ Quân Chủ Phong
Kiến lạc hậu. Hầu hết các nước
Dân Chủ Tự Do trên Thế Giới đều
đă phải kinh qua giai đoạn ấy.
Bởi thế không thể cho rằng bản
chất nhân quyền ở mỗi nước mỗi
khác, v́ vấn đề văn hóa, hay nếp
sống khác nhau, mà phải nói chỉ
v́ bị sống trong chế độ c̣n lạc
hậu, nên ở đó chính quyền mới
không biết tôn trọng nhân quyền
mà thôi. C̣n bất cứ chế độ nào
đă tiến lên mức Tự Do Dân Chủ
đều phải tuyệt đối tôn trọng
Nhân Quyền. V́ không có Con
Người th́ không có Quốc Gia Dân
Tộc, không có Xă Hội của Con
Người. Một chế độ không tôn
trọng Nhân Quyền là chế độ không
có Dân Quyền, xă hội không thể
có tự do, con người bị biến
thành công cụ của nhà nước do
một người, hay một đảng độc
quyền cai trị. Bởi vậy các nước
Dân Chủ trong Hội Đồng Nhân
Quyền mới đồng thanh kết án chế
độ Cộng sản Việt nam là vi phạm
nhân quyền. Riêng các nước Độc
Tài, Phong Kiến lạc hậu mới ủng
hộ bản báo cáo của chính phủ Hà
nội.
Khiến cho thứ trưởng ngoại giao
Việt cộng, Phạm B́nh Minh,
trưởng đoàn Việt nam, tại phiên
họp 08/05/09 của Hội Đồng Nhân
Quyền LHQ phải ú ớ, đành tự thú
nhận:
- “Việt nam hiện nay vẫn c̣n
những bất cập, khó khăn tồn tại
cần giải quyết, trong hệ thống
pháp luật c̣n thiếu đồng bộ, có
chỗ chồng chéo mâu thuẫn, chưa
theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó
khăn, thậm chí hiểu sai, làm ảnh
hưởng đến việc đảm bảo tính hợp
hiến, tính khả thi và minh bạch
trong quá tŕnh đảm bảo quyền
con người của một số người điều
hành tại địa phương, hoặc chưa
quen thuộc với các điều luật
trong các công ước quốc tế mà
Việt nam đă kư kết, cũng như
thiếu hiểu biết về chính sách
luật pháp của nhà nước đưa tới
việc làm sai trái”.
Tuy đă nhận khuyết điểm, rồi đổ
thừa cho địa phương làm lỗi,
nhưng trưởng đoàn Việt cộng cũng
cố gân cổ lên để bác bỏ những
lời tố cáo cho rằng, Việt nam
đàn áp những người bất đồng
chính kiến, ngược đăi các sắc
tộc dân thiểu số, không tôn
trọng tự do tôn giáo, và bóp
nghẹt các quyền tự do ngôn luận,
tự do bày tỏ tư tưởng, và tự do
nghiệp đoàn…
Thông cáo báo chí của Hội Đồng
Nhân Quyền LHQ ngày 08/05/09 đă
đưa ra các khuyến nghị, Việt nam
nên giảm bớt sử dụng luật lệ về
an ninh quốc gia để hạn chế
quyền thảo luận của công chúng
về Dân Chủ Đa Đảng và chỉ trích
chính phủ.
“… khuyến khích Việt nam
tiếp tục nỗ lực bảo đảm quyền tự
do tôn giáo, thừa nhận Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và
để cho giáo hội này được hoạt
động độc lập với Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam (quốc doanh), để
cho dân chúng được bày tỏ ư kiến
về hệ thống chính trị, và trả tự
do cho các tù nhân lương tâm như
linh mục Nguyễn Văn Lư, và hai
luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị
Công Nhân…”.
Thực ra về mặt tuyên truyền và
uy tín quốc tế, th́ nhà cầm
quyền Hà nội dịp này đă bị mất
mặt thê thảm. Nhưng rồi đây
chứng nào tật ấy, Việt cộng vẫn
cứ cố duy tŕ chế độ Độc Tài
Tham Nhũng, không dựa vào dân,
mà dựa vào các thế lực quốc tế
để tồn tại, như từ trước tới
nay.
Chính v́ chế độ độc tài cộng sản
không dựa vào dân, mà chỉ dựa
vào ngoại bang, nên trước đây đă
ngoan ngoăn nằm trong hệ thống
cộng sản của đàn anh Liên xô,
Trung cộng, nay th́ bị Đế Quốc
Đại Hán khống chế triệt để. Khởi
đi từ năm 1991 do nhóm lănh đạo
Hà nội: Phạm Văn Đồng, Nguyễn
Văn Linh, Đỗ Mười, thân hành
sang Tầu thần phục nhóm bành
trướng Bắc kinh: Đặng Tiểu B́nh,
Giang Trạch Dân. Lư Bằng. Tiếp
theo là Lê Khả Phiêu phải theo
lệnh Bắc kinh từ chối kư Hiệp
Ước Thương Mai với Mỹ năm 1999.
Cùng năm đó, Phiêu phải hứa cắt
đất, và năm 2000 dâng biển cho
Tầu. Từ đấy Tầu ngang nhiên nhận
2 quần đảo Hoàng sa, Trường sa
là của chúng. Đến tháng 12/2007,
nơi đó Tầu đặt là thành phố Tam
sa thuộc tỉnh Hải nam. Tháng
05/2008, Bắc kinh kêu Nông Đức
Mạnh sang, bắt kư cam kết hợp
tác toàn diện giữa 2 đảng, 2
nước. Tháng 10/2008, Nguyễn Tấn
Dũng được gọi sang Tầu để kư kết
cho Trung cộng vào khai thác tài
nguyên của Việt nam. Chính v́
vậy mà Trung cộng được độc quyền
đem dân, quân sang khai thác
bauxite ở vùng Tây Nguyên Việt
nam. Tổng giám đốc nhà máy sản
xuất Alumin Nhân Cơ, tỉnh
Đắcnông thừa nhận: “Chính phủ đă
cho không nhà thầu Trung quốc dự
án khai thác bauxite Tây Nguyên
chứ không có đấu thầu”. Cho nên,
dù phong trào chống việc khai
thác bauxite của toàn quốc lên
rất cao, mà nhóm cầm đầu Hà nội
cũng không dám trái ư quan thầy
của chúng, để chấm dứt. V́ đây
là kế hoạch “tằm thực”
Việt nam của chính sách Đế Quốc
Đại Hán, mà bước chính là chiếm
lấy vùng chiến lược cao nguyên
của Việt nam. V́ chỉ có chiếm
được nơi đây, Trung cộng mới làm
chủ được Đông dương và toàn vùng
Đông Nam Á, để hy vọng ngang tầm
siêu cường với Hoa kỳ.
Để tránh bị lịch sử gọi là những
con “Chó Bắc Kinh” CBK,
nhóm cầm đầu Hà nội đă phải liên
kết với Malaysia, để ngày
06/05/09 tŕnh hồ sơ thềm lục
điạ chung của 2 nước với LHQ.
Rồi ngày 07/05/09 một ḿnh Việt
nam nộp hồ sơ để xác định thềm
lục điạ Việt nam, bao gồm 2 quần
đảo Hoàng sa, Trường sa thuộc
chủ quyền Việt nam. Lẽ đương
nhiên đều bị Trung cộng quyết
liệt phản đối. Theo quy định về
thủ tục của CLCS, trong trường
hợp có tranh chấp về lănh hải,
th́ ủy ban sẽ không xét và phê
chuẩn hồ sơ của bất cứ bên liên
quan nào trong vụ tranh chấp.
Nghĩa là vấn đề Biển Đông vẫn
giữ nguyên trạng, vừa là hải
phận quốc tế, vừa là phần mỗi
nước tự nhận. Kẻ nào có thực lực
hải quân th́ có thế mạnh trong
vùng. Cho nên Trung cộng tăng
cường hải quân, các nước trong
vùng phải chạy theo. Hoa kỳ là
“chúa đại dương” cũng
phải tăng cường hiện diện, khiến
nơi đây luôn luôn là vùng nguy
biến ŕnh rập. Riêng với Việt
nam th́ chừng nào chế độ chưa
phải là của dân. Chính quyền
chưa do dân bầu chọn, chưa lấy
dân làm gốc, chưa nhận dân làm
chủ, chưa tôn trọng nhân quyền,
chưa dân chủ hóa chế độ th́ chủ
quyền quốc gia vẫn c̣n nằm trong
tay ngoại bang chi phối.